1. Hoãn chấp hành hình phạt tù là gì?

Hiện nay, pháp luật chưa có quy định giải thích khái niệm hoãn chấp hành hình phạt tù là gì, tuy nhiên có thể hiểu hoãn chấp hành án phạt tù là việc chuyển thời điểm người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù sang một thời điểm muộn hơn vì những lí do khách quan nhằm thể hiện tính nhân đạo, nhân văn trong việc áp dụng pháp luật, ngoài ra còn hướng đến bảo vệ quyền con người cho người bị kết án và cả người thân của họ. Có những trường hợp nếu chấp hành án ngay thì sẽ kéo theo hậu quả là họ không thể tiếp tục lao động, chu cấp kinh tế cho gia đình hay nuôi dưỡng con cái, cha mẹ, người thân khác trong suốt thời gian chấp hành án. Tuy nhiên, việc quyết định áp dụng, thi hành chế định hoãn chấp hành án phạt tù cần phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật để bảo đảm áp dụng đúng đối tượng, trường hợp. 

2. Điều kiện để được hoãn chấp hành hình phạt tù? 

Căn cứ theo quy định tại Điều 67 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) có hiệu lực từ 01/07/2025, Điều 7 Nghị quyết 03/2024/NQ-HĐTP người bị xử phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt tù khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 67 của Bộ luật Hình sự, cụ thể:

Trường hợp 1. Người bị kết án bị bệnh nặng

Trường hợp 2. Người bị kết án là Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng

Trường hợp 3. Người bị kết án là lao động duy nhất trong gia đình nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt

Trường hợp 4. Người bị kết án bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ

Trường hợp người bị xử phạt tù là phụ nữ có thai không phân biệt họ cố tình có thai và sinh con liên tục để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án phạt tù hay không hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi không phân biệt là con đẻ hay con nuôi thì có thể được hoãn chấp hành hình phạt tù cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi.

b) Có nơi cư trú rõ ràng.

Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người bị xử phạt tù về cư trú, sinh sống thường xuyên;

c) Sau khi bị xử phạt tù không có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, không có căn cứ cho rằng họ bỏ trốn.

Lưu ý: Tòa án cũng có thể cho người bị xử phạt tù thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 67 của Bộ luật Hình sự nhưng không đáp ứng một trong các điều kiện hướng dẫn tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 7 Nghị Quyết 03/2024/NQ-HĐTP được hoãn chấp hành hình phạt tù nhưng phải gắn với hoàn cảnh đặc biệt và phải xem xét thận trọng, chặt chẽ.

Ví dụ: Nguyễn Thị B bị xử phạt 04 năm tù về tội cố ý gây thương tích, không có nơi cư trú rõ ràng, đang nuôi con 12 tháng tuổi nhưng con bị mắc bệnh hiểm nghèo phải điều trị trong bệnh viện mà không có người chăm sóc thì Tòa án có thể xem xét cho Nguyễn Thị B được hoãn chấp hành hình phạt tù.

3. Thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù

 Tại điểm a, khoản 1 Điều 67 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 7 Nghị quyết Số 03/2024/NQ-HĐTP về thời hạn hoãn chấp hành án được xác định như sau:

Trường hợp 1. Người bị kết án bị bệnh nặng:

  • Được hoãn cho đến khi sức khỏe được hồi phục.
  • Thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù đối với trường hợp này được tính từ ngày Tòa án ban hành quyết định cho đến khi sức khỏe của người bị xử phạt tù được hồi phục.

Trường hợp 2. Người bị kết án là Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi:

  • Được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi
  • Thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù đối với trường hợp này được tính từ ngày Tòa án ban hành quyết định cho đến khi kết thúc thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù mà Tòa án quyết định.

Trường hợp 3. Người bị kết án là lao động duy nhất trong gia đình nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt:

  • Được hoãn đến 01 năm, trừ trường hợp người đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
  • Thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù đối với trường hợp này được tính từ ngày Tòa án ban hành quyết định cho đến khi kết thúc thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù mà Tòa án quyết định.

Trường hợp 4. Người bị kết án Bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ:

  • Được hoãn đến 01 năm, trường hợp hoãn này chỉ áp dụng cho người bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng.
  • Thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù đối với trường hợp này được tính từ ngày Tòa án ban hành quyết định cho đến khi kết thúc thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù mà Tòa án quyết định.   

4. Thẩm quyền ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù

Căn cứ Khoản 1 Điều 24 LTHAHS năm 2019, người có thẩm quyền ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù là Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án.

Việc ra quyết định có thể do chính Chánh án xem xét hoặc theo đơn đề nghị của người bị kết án, văn bản đề nghị của Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người chấp hành án làm việc hoặc cư trú ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù. Đơn đề nghị hoặc văn bản đề nghị phải được gửi cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án kèm theo các giấy tờ có liên quan.

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đơn hoặc văn bản đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải xem xét, quyết định. Trường hợp không đồng ý hoãn chấp hành án phạt tù thì Chánh án Tòa án phải có văn bản trả lời người có đơn đề nghị hoặc cơ quan có văn bản đề nghị và thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp, trong đó nêu rõ lý do không chấp nhận.

5. Thủ tục hoãn chấp hành hình phạt tù

Thủ tục đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù, hồ sơ đề nghị và thủ tục xem xét hoãn chấp hành hình phạt tù được quy định tại Điều 24 Luật Thi hành án hình sự và  Thông tư liên tịch ( sửa đổi bổ sung tại Thông tư liên tịch số 01/2025/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP

5.1. Hồ sơ cần chuẩn bị

Hồ sơ hoãn chấp hành án phạt tù được quy định cụ thể tại Điều 24 LTHADS, Điều 6 Thông tư liên tịch 01/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP (sửa đổi bổ sung tại khoản 2 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2025/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP

– Đơn đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù hoặc văn bản đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù;

– Bản sao bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc bản sao trích lục bản án;

– Bản sao quyết định thi hành án phạt tù;

– Đối với người bị kết án phạt tù bị bệnh nặng bởi mức không thể chấp hành án phạt tù và nếu phải chấp hành án phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ phải có kết luận của Hội đồng giám định y khoa hoặc bản sao bệnh án, kết luận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp chuyên sâu hoặc bệnh viện cấp quân khu trở lên hoặc có kết luận của tổ chức pháp y công lập về tình trạng bệnh tật của người bị kết án phạt tù. Người bị bệnh nặng là người mắc một trong các bệnh hiểm nghèo như: Ung thư giai đoạn cuối, lao nặng kháng thuốc, xơ gan cổ chướng, suy tim độ III trở lên, suy thận độ IV trở lên hoặc mắc bệnh khác dẫn đến không có khả năng tự phục vụ bản thân, tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao”.

– Đối với người bị kết án phạt tù bị nhiễm HIV đã chuyển giai đoạn lâm sàng IV thì phải có kết quả xét nghiệm bị nhiễm HIV theo quy định của Bộ Y tế và bản sao bệnh án hoặc kết luận của cơ quan y tế có thẩm quyền khẳng định đã chuyển giai đoạn lâm sàng IV, đang có nhiễm trùng cơ hội và tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao;

– Đối với người bị kết án phạt tù là phụ nữ có thai phải có kết luận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên về việc người bị kết án có thai;

– Đối với người bị kết án phạt tù là phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi phải có bản sao giấy khai sinh hoặc giấy chứng sinh của con dưới 36 tháng tuổi và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị kết án phạt tù đang cư trú về việc họ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;

– Đối với người bị kết án phạt tù được đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù vì lý do là lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành án phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt thì phải có bản tường trình ghi rõ hoàn cảnh khó khăn, công việc, mức thu nhập, nơi làm việc và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi họ cư trú;

– Đối với người bị kết án phạt tù được đề nghị hoãn chấp hành án do nhu cầu công vụ thì phải có văn bản hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc trưng dụng người bị kết án phạt tù cần phải thực hiện nhiệm vụ, công vụ cụ thể;

– Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân, hộ chiếu;

– Các tài liệu khác liên quan (nếu có)

Lưu ý:  Hồ sơ đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù phải được đánh số bút lục và lưu giữ trong Hồ sơ thi hành án của người được hoãn chấp hành án phạt tù do Tòa án quản lý.

5.2. Thủ tục thực hiện

Bước 1. Nộp đơn đề nghị hoãn thi hành án phạt tù

Đối với người bị kết án phạt tù đang được tại ngoại, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án có thể tự mình hoặc theo đơn đề nghị của người bị kết án, văn bản đề nghị của Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người chấp hành án làm việc hoặc cư trú ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù.

Đơn đề nghị hoặc văn bản đề nghị phải được gửi cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án kèm theo các giấy tờ có liên quan.

Bước 2. Xem xét quyết định thi hành án phạt tù

– Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đơn hoặc văn bản đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải xem xét, quyết định.

– Trường hợp không đồng ý hoãn chấp hành án phạt tù thì Chánh án Tòa án phải có văn bản trả lời người có đơn đề nghị hoặc cơ quan có văn bản đề nghị và thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp, trong đó nêu rõ lý do không chấp nhận.

Bước 3. Gửi quyết định

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây:

–  Người được hoãn chấp hành án và người đại diện trong trường hợp người được hoãn chấp hành án là người dưới 18 tuổi;

– Viện kiểm sát cùng cấp;

– Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người được hoãn thi hành án cư trú, làm việc;

– Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở;

– Bộ Ngoại giao trong trường hợp người được hoãn chấp hành án là người nước ngoài.